Thuốc Aspirin do Công ty Bayer (Đức) bào chế và đặt tên. Nó được đăng ký bản quyền vào năm 1899. Trong đó, ký tự đầu tiên của tên Aspirin – chữ “a” được lấy từ Acetylide (thuốc thử trong tổng hợp hữu cơ); -spir- được lấy từ Spiraea (tên khoa học của cây mơ trân châu). Còn “in” là hậu tiết tố thường dùng để đặt tên thuốc.

Cơ chế tác động của Aspirin đã được làm rõ từ năm 1971 bởi nhà dược lý học người Anh tên John Robert Vane. Ông đã chứng minh rằng hoạt chất của thuốc có khả năng ức chế cơ thể tổng hợp Prostaglandin (các axit béo không bão hòa ở mô) và Thromboxane (liên quan đến sự hình thành huyết khối – cục máu đông). Vì thế, nó có thể ức chế hoạt động của Cyclooxygenase (viết tắt là COX). Đây là một loại enzyme liên quan đến tình trạng viêm và đau.

Các dạng bào chế của Aspirin gồm: viên thuốc con nhộng, viên nén (gồm cả dạng uống và tan trong ruột); dạng nhai và đặt trực tràng. Liều lượng cao nhất trong 1 viên nén hoặc viên con nhộng là 500mg, thấp nhất là 325mg. Còn dạng đặt trực tràng thì 2 con số này lần lượt là 600mg và 300mg. Dạng nhai thì chỉ có loại 325mg.

Công dụng của thuốc Aspirin

Aspirin có 4 công dụng chính: chống viêm, hạ sốt, giảm đau và tác dụng lên tiểu cầu. Đối với công dụng chống viêm, điểm tuyệt vời là nó tác dụng với hầu hết các loại viêm. Kể cả những trường hợp viêm không rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, tác dụng này chỉ có khi dùng thuốc với liều lượng cao. Đồng thời, nó chỉ hiệu quả trong thời kỳ đầu của tình trạng viêm.

Đối với tình trạng sốt, Aspirin giúp cải thiện các triệu chứng. Nó khiến tĩnh mạch da được giãn ra và tăng tiết mồ hôi. Tuy nhiên, loại thuốc này không có tác dụng lên nguyên nhân gây sốt.

Còn với tác dụng giảm đau, Aspirin tương tự như những loại thuốc còn lại trong nhóm không chứa Steroid. Đó là chỉ giảm đau ngoại vi (những cơn đau nông và nhẹ). Cụ thể là tình trạng đau đầu, răng, khớp và cơ. Thuốc đặc biệt hữu hiệu trong các trường hợp đau do viêm.

Đối với tiểu cầu, khi dùng thuốc ở liều thấp (từ 0,3 đến dưới 1 gam), thuốc sẽ chống tập kết tiểu cầu. Nhờ đó, nó chống được quá trình đông máu. Tuy nhiên, khi dùng với liều cao (từ 2 gam) trở lên thì có tác dụng ngược lại. Cụ thể là làm  tăng tập kết tiểu cầu và tăng đông máu.

Liều lượng dùng Aspirin tương ứng với mục đích điều trị

Liều lượng dùng Aspirin hay bất kỳ loại thuốc tân dược nào cũng cần tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ hoặc chuyên viên nhà thuốc. Lượng thuốc này tùy thuộc vào mục đích điều trị, tuổi tác, thể trạng người dùng và một vài yếu tố khác.

Mục đích giảm đau và hạ sốt

Liều lượng dùng trong 1 ngày ở người trưởng thành giao động từ 1000 – 3000mg, chia thành 4 – 6 lần uống. Trẻ em từ 6 -15 tuổi dùng 300 – 900mg, chia thành 3 – 6 lần. Còn với trẻ em dưới 6 tuổi thì liều dùng từ 25 – 30mg, chia lần uống tương tự.

Mục đích chống viêm

Như đã trình bày, người bệnh cần dùng thuốc với liều lượng cao mới phát huy được công dụng này. Cụ thể, liều dùng đối với người lớn 1 ngày từ 4000 – 5000mg. Còn trẻ em thì dùng từ 80 – 100mg dựa trên số kilogam cân nặng. Chia thuốc thành 3 – 4 lần dùng trong ngày.

Mục đích trị huyết khối

Aspirin dùng ở liều thấp khi bị rối loạn huyết động. Phổ biến là các bệnh về van tim, mạch vành hoặc giãn tĩnh mạch ngoại vi. Bệnh nhân sẽ được chỉ định ngày uống 3 lần. Mỗi lần 500g (tương đương 1 hoặc 2 viên nén). Ngược lại, đối với bệnh Gout, người bệnh sẽ phải dùng Aspirin liều cao. Liều dùng trong 1 ngày giao động từ 4000 – 5000mg.

Tác dụng phụ của thuốc Aspirin

Aspirin ít gây tác dụng phụ. Tuy nhiên, khi dùng thuốc này không đúng cách vẫn có thể gây ngộ độc cấp tính. Thường là khi dùng từ 10g Aspirin trở lên. Ngoài ra, nếu dùng ở mức 20g, nó có thể gây chết ở người trưởng thành.

Các biểu hiện thường thấy khi dùng Aspirin không đúng cách là buồn nôn hoặc nôn; tai bị ù hoặc điếc; nhức đầu hoặc lú lẫn… Tổng hợp các triệu chứng này được gọi là Hội chứng Salicylisme. Đối với những trường hợp bị dị ứng, thuốc có thể gây hen, phù và nổi mẩn ngứa hoặc mề đay.

Bên cạnh đó, tác dụng phụ của Aspirin còn ảnh hưởng đến dạ dày. Cụ thể là tình trạng viêm loét và xuất huyết dạ dày. Trên hệ tiết niệu, tác dụng phụ của thuốc làm giảm lượng máu nuôi thận, rối loạn chức năng tiểu cầu thận. Đồng thời, nó còn gây viêm, hoại tử hoặc suy thận cấp. Ngoài ra, tác dụng phụ của Aspirin còn ảnh hưởng đến hệ huyết học. Nó gây ra tình trạng xuất huyết dưới da hoặc kéo dài thời gian chảy máu.

Đối với thai phụ, dùng Aspirin trong giai đoạn 3 tháng đầu dễ gây quái thai. Nếu dùng ở 3 tháng cuối thì tăng thời gian mang mang thai. Nguyên nhân là thuốc ức chế chất gây co bóp tử cung. Song song đó, thuốc còn cản trở hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp của thai nhi.

Chống chỉ định dùng Aspirin

Những trường hợp không được sử dụng Aspirin là:

  • Từng mắc bệnh về dạ dày – tá tràng hoặc hiện tại đang bị bệnh này;
  • Dị ứng với axit acetylsalicylic, ibuprofen hoặc naproxen;
  • Mắc các bệnh lý có nguy cơ chảy máu (ví dụ như sốt xuất huyết);
  • Bệnh nhân viêm thận, suy gan, cao huyết áp hoặc có cơ địa dễ bị dị ứng cần thận trọng khi dùng thuốc.

Những lưu ý sử dụng Aspirin đúng cách

Nếu dùng Aspirin cùng với rượu, một số loại thuốc chống đông máu hoặc tự ý kết hợp với các loại thuốc Đông y rất dễ dẫn đến tình trạng chảy máu dạ dày.

Nên uống thuốc sau khi ăn khoảng 30 phút. Uống thuốc với ít nhất 250ml nước. Sau khi uống không được nằm liền mà phải chờ trong vài phút. Mục đích là giúp thuốc dễ được hấp thụ hơn và tránh tình trạng trào ngược dạ dày;

Đối với thuốc dạng viên bao thì bạn cần để nguyên khi uống. Không được nhai hoặc nghiền nát. Điều này không những ảnh hưởng đến hiệu quả tác dụng của thuốc mà còn khiến dạ dày khó chịu. Đồng thời, nó còn dễ gây tác dụng phụ. Đặc biệt là dạng viên nang phóng thích kéo dài.

Trường hợp chỉ dùng Aspirin để giảm các cơn đau đột ngột, bạn cần nhớ nó chỉ hiệu quả với tình trạng đau mới vừa xuất hiện. Dùng thuốc cho các cơn đau mạn tính chẳng những không có tác dụng mà còn gia tăng nguy cơ mắc phải tác dụng phụ.

Ngoài ra, ngay cả với những trường hợp dùng thuốc ngay khi cơn đau xuất hiện thì cũng không được dùng quá 10 ngày. Trường hợp bị sốt thì số ngày không được quá 3. Sau khoảng thời gian này mà các triệu chứng không khỏi, bạn cần nhanh chóng liên hệ với bác sĩ. Hoặc trong quá trình dùng thuốc, ngay khi có các biểu hiện bất thường nào, đặc biệt là các dấu hiệu liệt kê trong phần tác dụng phụ, cần cần ngừng ngay và đến cơ sở y tế để kiểm tra.